0903.655.525

Nguồn gốc cư dân tại Đà Lạt

Trong cộng đồng dân cư ở đây, 3 dân tộc Lạch, Chil, Srê chiếm đa số và định cư từ lâu.
Srê là một tộc người thiểu số đã đến vùng đất này không biết từ bao giờ. Người ta ước đoán rằng cách đây 4 -5 thế kỷ, vào thời kỳ hưng thịnh của Vương quốc Chăm pa, người Srê đã hiện diện và sinh sống ở đây. Người Chăm đã tiến hành những cuộc chiếm đất và cai trị. Một bộ phận người Srê không chịu nổi ách thống trị tàn bạo nên đã di cư về Phitôkhang (Di Linh). Người Srê là nguồn cư dân đầu tiên có nguồn gốc bản địa lâu đời ở Tà Nung (bon T’R’ Nũn). Đơn vị cư trú của người Srê là bon. Bon cũ có tên là T’R’ Nũn gắn liền với sự hình thành vùng đất và tên gọi của xã Tà Nung hiện nay.
 
 
Lối sống của người Srê là lối sống định cư luân khoảnh trên một địa bàn nhất định. Người Srê canh tác ruộng nước đồng thời vừa trồng lúa rẫy với trình độ kỹ thuật tiến bộ hơn nên cuộc sống đã ổn định và phát triển.
Tà Nung cách Dalat 17 km hướng Tây Nam với địa hình tương đối bằng phẳng độ cao trên 1000m.
Với mục đích muốn tìm một nơi dành cho công chức và binh lính Pháp mệt mỏi đau yếu vì khí hậu nhiệt đới, tránh được cái nóng bức ở vùng đồng bằng, tận hưởng những giây phút yên tĩnh trong không khí mát lành để hồi phục sức khỏe, theo đề nghị của Bác sĩ Yersin, toàn quyền Paul Doumer đã chọn cao nguyên Lang Biang làm nơi nghỉ dưỡng “du lịch Đà Lạt” (sanatorium).
Những người Kinh định cư đầu tiên ở Đà Lạt là những tù nhân, những người đi buôn, những người giúp việc trong các phái đoàn nghiên cứu… Tù nhân là những người thay vì phải lưu đày ở Lao Bảo hay Côn Lôn thì bị đưa lên Đà Lạt để khai phá đất hoang, xây dựng nhà cửa, đường sá.
 
1906, Dalat được xác định làm nơi nghỉ dưỡng. Năm 1907, xây dựng lữ quán dành cho khách vãng lai. Năm 1909, trạm khí tượng và trạm nông nghiệp được chuyển từ Dankia về Dalat. Trong thời gian này, ở Dalat ,ngoài cư dân bản địa, còn có vài khách viễn du người Âu đi công tác hoặc trắc địa viên, những người thợ săn hoặc một vài khách du lịch rất hiếm hoi.
Thế chiến thứ nhất (1914 -1918) bùng nổ đã gây khó khăn cho những người Âu trở về quê hương nghỉ hè hàng năm. Năm 1915, một làn sóng người Âu đầu tiên đã lên Đà Lạt.
Ngày 1.9.1939, chiến tranh thế giới lần thứ hai bùng nổ. Một lần nữa, các viên chức Pháp không thể trở về quê hương mà phải ở lại Đông Dương lâu hơn khiến cho họ đổ xô lên Đà Lạt nghỉ mát.
Từ năm 1945 trở đi, tình hình bất an, sự giao thông khó khăn. Việc di dân lên Đà Lạt bị ngưng trệ, dân số Đà Lạt bị chựng lại.
Vào cuối năm 1953 đầu năm 1954, chiến tranh đã đạt đến mức độ khốc liệt nhất trong giai đoạn quyết định nên dân chúng tại các tỉnh lân cận đến Đà Lạt tị nạn chiến tranh ngày càng đông.
Trong cộng đồng cư dân thành phố Đà Lạt, trước hết phải kể đến một thành phần cư dân khá đông đảo từ các tỉnh phía Bắc đến định cư tại Đà Lạt. Tuy họ đến Đà Lạt với những mục đích khác nhau trong những giai đoạn khác nhau, song chính họ đã đóng góp một phần không nhỏ vào việc hình thành và phát triển của Đà Lạt trong quá khứ, hiện tại và tương lai.
 
 
Sau ngày miền Nam hoàn toàn giải phóng, với sự tăng dân số chung của cả nước, thêm vào đó cán bộ các ngành từ miền Bắc, Trung vào công tác cùng với gia đình đã làm cho Đà Lạt tăng nhanh về dân số.
Ngược dòng thời gian để tìm hiểu về những người Đà Lạt gốc miền Bắc, nhóm người đầu tiên vào sinh sống ở Đà Lạt là nhóm người đi làm công cho trại chăn nuôi bò Dankia.
Sau 3 tháng, 6 tháng hoặc một năm làm việc ở các đồn điền, công sở khai thác mãn hạn, những người lao động Việt Nam thường tìm đất đã khai hoang, lập nghiệp tại Đà Lạt; rồi từ đó bà con quen biết từ quê nhà mò tìm đến và xây dựng ấp làng.
 
Vào những năm 1926, 1927, những công nhân đầu tiên ở Sở trà Cầu Đất đã nhen nhúm ý định lập làng Trường Xuân. Trong số 11 vị đầu tiên đứng ra xin lập làng có cả những người Thừa Thiên – Huế.
Khác với luồng cư dân lập ấp Hà Đông, Nghệ Tĩnh hoặc Du Sinh, Vạn Thành, Thánh Mẫu, Tùng Lâm… hành trình của nguồn cư dân Thừa Thiên – Huế vào Đà Lạt là những cuộc hành trình lẻ tẻ, đầy gian khổ. Vào những năm 1930, phương tiện chủ yếu là đi bộ, từ Thừa Thiên – Huế vào Đà Lạt phải đi bộ mất khoảng một tháng trời.
Sở dĩ người dân Thừa Thiên – Huế bỏ quê hương đến Đà Lạt lập nghiệp vì họ muốn tránh lánh sự tàn phá của chiến tranh, muốn thoát khỏi chế độ tô thuế nặng nề, họ muốn tìm một vùng đất mà thiên nhiên và khí hậu ưu đãi con người. Thế rồi sau một thời gian chịu khổ xây dựng và ổn định cuộc sống, họ trở lại thăm quê nhà và cùng với những người đồng hương lên Đà Lạt xây dựng quê hương mới.
Ngoài các thành phần cư dân trên, cư dân Đà Lạt gốc Nam, Ngãi, Bình, Phú (NNBP) đã đóng một vai trò rất quan trọng trong việc hình thành và phát triển thành phố Đà Lạt.
Luồng cư dân đầu tiên của NNBP là những người phu cầu đường quốc lộ 1,11, 20 và chặng đường xe lửa Tháp Chàm – Đà Lạt.
Luồng cư dân thứ hai của NNBP là những người làm đường quốc lộ 20 và công nhân Sở mủ ngo tại Lang Hanh.
Những năm sau đó, người dân NNBP tiếp tục di dân lẻ tẻ vào Đà Lạt lập nghiệp và hình thành những khu cư dân Saint Jean (1936), Nam Hồ (1938), Nguyễn Siêu (1940); mỗi khu gồm vài ba chục nóc nhà, sinh sống bằng nghề làm vườn.
Sau hiệp định Genève, người NNBP nhập cư Đà Lạt ngày một đông, chủ yếu là dân Quảng Nam và Quảng Ngãi.
 
 
Trong những ngày đầu sau chiến tranh, dân số thành phố giảm xuống khi nhiều người phục vụ trong quân đội và bộ máy chính quyền cũ trở về quê quán, thêm vào đó, một phần cư dân Đà Lạt tới định cư trên những vùng đất khác của Lâm Đồng theo chính sách kinh tế mới.
Xây dựng các vùng kinh tế mới là một chính sách của Chính phủ Việt Nam nhằm tổ chức, phân bố lại lao động và dân cư trong cả nước, chuyển một khối lượng lớn dân cư từ các vùng đồng bằng và thành phố tới các vùng trung du, miền núi, biên giới, hải đảo. Chính sách này được triển khai tại miền Bắc Việt Nam từ năm 1961 và trên toàn quốc từ sau khi đất nước thống nhất cho đến tận năm 1998.
Vào những năm đầu thế kỷ 20, những thương gia người Hoa bắt đầu đến Đà Lạt, lúc đầu cung cấp hàng hóa phục vụ dân địa phương, dần dần định cư luôn tại Đà Lạt.
 

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *